|
|
1. LÀ NGƯỜI TÍN HỮU
1.1. Trường hợp người Kitô hữu Công giáo
Người muốn lănh nhận bí tích Xức Dầu Bệnh Nhân phải là người tín hữu Công
giáo, nghĩa là đă được rửa tội trong Giáo Hội Công giáo hay những người đă
được nhận vào Giáo Hội Công Giáo. Tuy nhiên, Giáo luật loại trừ hai trường
hợp sau đây không được lănh nhận bí tích Xức Dầu Bệnh Nhân:
- Những người bị vạ tuyệt thông (Điều 1331 §1, 20)
và bị vạ cấm chế (Điều 132).
- Những người cố chấp sống trong tội trọng công khai (Điều 1007). Trong
trường hợp này, cần phải có đầy đủ 3 yếu tố:
+ tội trọng chứ không phải là tội nhẹ,
+ tội trọng công khai có người biết
+ có tính cách cố chấp.
1.2. Trường hợp Kitô hữu không Công giáo
1.2.1. Kitô hữu thuộc các Giáo Hội Chính Thống Đông Phương và các Giáo Hội
khác được đồng hóa: Theo Điều 844 §3, các thừa tác viên Công giáo ban cách
hợp thức các bí tích Sám Hối, Thánh Thể và Xức Dầu Bệnh Nhân cho những thành
viên của các Giáo Hội Đông Phương không hiệp thông trọn vẹn với Giáo Hội
Công giáo và những thành viên của các Giáo Hội khác đang ở trong cùng một
t́nh trạng như các Giáo Hội Đông Phương nói trên theo sự nhận định của Tông
Toà, nếu họ tự ư xin điều đó và nếu họ đă được chuẩn bị đầy đủ.
1.2.2. Các Kitô hữu khác không hiệp thông trọn vẹn với Giáo Hội Công giáo,
trong trường hợp nguy tử hoặc do một nhu cầu quan trọng khác thúc bách: Điều
844 §4 quy định: Trong trường hợp nguy tử hoặc nếu, theo sự nhận định của
Giám Mục giáo phận hay của Hội Đồng Giám Mục, có một nhu cầu quan trọng khác
thúc bách, các thừa tác viên Công giáo có thể ban cách hợp thức các bí tích
Sám Hối, Thánh Thể và Xức Dầu Bệnh Nhân cho cả những Kitô hữu khác không
hiệp thông trọn vẹn với Giáo Hội Công giáo, khi họ không thể đến được với
một thừa tác viên của cộng đoàn ḿnh và khi họ tự ư xin điều đó, miễn là họ
biểu lộ đức tin Công giáo về các bí tích ấy, và miễn là họ đă được chuẩn bị
đầy đủ. Đây là trường hợp áp dụng cho các Kitô hữu Anh Giáo hoặc Kitô hữu
Tin Lành (với điều kiện là bí tích Rửa Tội được Giáo Hội Công giáo nh́n nhận
là hữu hiệu).
2. BIẾT SỬ
DỤNG TRÍ KHÔN
- Nghi Thức
Xức Dầu Bệnh Nhân, năm 1972, số 12, cho phép ban bí tích Xức Dầu Bệnh
Nhân “cho trẻ em đến thời kỳ biết sử dụng trí khôn mà có thể được bí tích
này yên ủi nâng đỡ”.
- Bí tích này có thể ban cho những bệnh nhân tuy dù đă bất tỉnh hoặc mất
trí, miễn là khi họ c̣n tỉnh, với tư cách là những người có đức tin, có thể
họ đă xin lănh nhận (Nghi
Thức Xức Dầu Bệnh Nhân, năm 1972, số 14; Điều 1006).
- Trong trường hợp hồ nghi bệnh nhân đă biết sử dụng trí khôn hay chưa, th́
vẫn được ban bí tích Xức Dầu Bệnh Nhân cho họ (Điều 1005).
3. BẮT ĐẦU Ở
TRONG T̀NH TRẠNG HIỂM NGHÈO V̀ BỆNH TẬT HAY V̀ TUỔI GIÀ
- Ngay khi người bệnh hoặc người già bắt đầu bước vào giai đoạn nguy hiểm
th́ lúc đó là thời điểm thích hợp để cho họ lănh nhận bí tích Xức Dầu Bệnh
Nhân, đừng tŕ hoăn để đến giai đoạn cuối cùng.
- Nguyên nhân của t́nh trạng hiểm nghèo phải là do bệnh tật hay tuổi già. V́
thế, một người ở trong t́nh trạng hiểm nghèo v́ một nguyên nhân khác th́
không được lănh nhận bí tích Xức Dầu Bệnh Nhân (ví dụ như một tử tội trước
khi bị hành quyết, một binh sĩ trước khi ra trận); những người này chỉ cần
lănh nhận bí tích Sám Hối và Thánh Thể là đủ. Việc phán đoán thế nào là đau
yếu trầm trọng th́ chỉ cần một sự phán đoán chín chắn và khôn ngoan là đủ,
nếu cần thiết th́ bàn hỏi bác sĩ (Nghi
Thức Xức Dầu Bệnh Nhân, năm 1972, số 8).
- Trước khi được giải phẫu, bệnh nhân có thể lănh nhận bí tích này, nếu căn
bệnh nguy hiểm là nguyên nhân gây ra việc giải phẫu ấy (Nghi
Thức Xức Dầu Bệnh Nhân, năm 1972, số 10).
- Đối với người già cả khi sức lực đă yếu nhiều, dầu không có bệnh nguy
ngập, họ cũng có thể lănh nhận bí tích Xức Dầu Bệnh Nhân (Nghi
Thức Xức Dầu Bệnh Nhân, năm 1972, số 11).
- Bí tích Xức Dầu Bệnh Nhân có thể được ban lại, nếu sau khi hồi phục, bệnh
nhân lại ngă bệnh nặng, hoặc nếu nguy cơ trở nên nghiêm trọng hơn trong cùng
một cơn bệnh kéo dài (Điều 1004 §2).
- Trong trường hợp hồ nghi bệnh có hiểm nghèo hay không, th́ vẫn được phép
ban bí tích Xức Dầu Bệnh Nhân cho họ (Điều 1005).
- Theo Giáo luật hiện hành, trong trường hợp hồ nghi bệnh nhân đă chết hay
chưa th́ vẫn phải ban bí tích này, không cần đặt điều kiện (Điều 1005). Mặc
dù Nghi
Thức Xức Dầu Bệnh Nhân, năm 1972, số 15 và số 135 có đề cập đến việc xức
dầu với điều kiện (“Nếu con c̣n sống…”), trong trường hợp hồ nghi không biết
bệnh nhân c̣n sống hay không, nhưng Sắc lệnh Promulgato
Codice của Thánh Bộ về Bí
Tích và Phượng Tự ngày 12-09-1983 đă hủy bỏ h́nh thức xức dầu với điều kiện
của Nghi
Thức Xức Dầu Bệnh Nhân.
- Nếu bệnh nhân đă chết rồi th́ thừa tác viên không được ban Bí tích Xức Dầu
Bệnh Nhân (Nghi
Thức Xức Dầu Bệnh Nhân, năm 1972, số 15
Kết luận:
“Qua bí tích Xức Dầu Bệnh Nhân, Giáo Hội phó thác những tín hữu bệnh tật
hiểm nghèo cho Chúa chịu nạn và vinh quang để Người nâng đỡ và cứu chữa họ”
(Điều 998). Cho nên, “bí tích Xức Dầu Bệnh Nhân không phải chỉ là bí tích
dành riêng cho những người hấp hối. Do đó, thời gian thuận tiện để nhận bí
tích này chắc chắn là lúc tín hữu bắt đầu nguy tử v́ bệnh tật hay già yếu”
(Vatican II, Hiến chế Phụng
Vụ Thánh, số 73).
V́ thế, Giáo Hội khuyên nhủ: “Trong việc dạy giáo lư chung hay trong gia
đ́nh, các tín hữu phải được huấn luyện thế nào để chính họ biết tự động xin
lănh nhận bí tích Xức Dầu Bệnh Nhân và khi thời gian thuận tiện vừa tới để
lănh bí tích ấy, th́ họ lănh nhận với ḷng tin tưởng và sốt sắng đầy đủ,
đừng theo thói quen xấu mà lần lữa không lănh bí tích này. C̣n tất cả những
ai săn sóc bệnh nhân phải được học hỏi kỹ lưỡng về bản tính bí tích này”. (Nghi
Thức Xức Dầu Bệnh Nhân, năm 1972, số 13).
Lm. Luy Huỳnh Phước Lâm